Tìm kiếm tài liệu miễn phí

Sinh học (11.997)

Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống ngô lai có triển vọng tại Thái Nguyên

Thí nghiệm nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của 8 giống ngô lai có triển vọng được thực hiện vụ Đông 2012 và Xuân 2013 và giống đối chứng NK4300. Kết quả cho thấy thời gian sinh trưởng của các giống thí nghiệm là 107-119 ngày (vụ Đông 2012) và 117-124 ngày (vụ Xuân 2013), phù hợp với cơ cấu luân canh vụ Xuân và Đông tại Thái Nguyên. Giống KK11-6 khả năng chống đổ kém nhất, đánh giá điểm 2-3.


Nghiên cứu khả năng nhân chồi của cây Sa nhân tím (Amomum longiligulare) ở vườn ươm

Nghiên cứu này được tiến hành ở vườn ươm của Trung tâm Nghiên cứu Lâm nghiệp – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. Ba công thức thí nghiệm về thành phần hỗn hợp giâm cây mẹ được tiến hành thử nghiệm đối với 3 xuất xứ sa nhân khác nhau (Thái Nguyên và Đắc Lắc) và theo dõi các chỉ tiêu về tỷ lệ bật chồi, chất lượng cây, sâu bệnh hại,... Kết quả cho thấy công thức giâm cây mẹ trên giá thể 40% mùn cưa + 60% đất cho tỉ lệ bật chồi và sức sinh trưởng của cây chồi tốt nhất. Khả năng bật chồi và sinh trưởng của xuất xứ Sa nhân tím Đắc Lắc hạt tròn có tỉ lệ bật chồi và khả năng sinh trưởng vượt trội hơn hai xuất xứ Sa nhân còn lại.


Ảnh hưởng của điều kiện lên men đến khả năng sinh tổng hợp chất kháng sinh của hai chủng xạ khuẩn K4 và HT 28 phân lập từ đất Thái Nguyên

Bài viết này thông báo kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của điều kiện nuôi cấy đến khả năng sinh tổng hợp chất KS của 2 chủng xạ khuẩn K4 và HT28 – là 2 chủng xạ khuẩn có HTKS cao đã được tuyển chọn trong số các chủng xạ khuẩn phân lập từ đất Thái Nguyên, để từ đó xác định được điều kiện lên men thích hợp nhất cho quá trình sinh tổng hợp KS của 2 chủng nghiên cứu.


Xác định khoảng cách cắt thích hợp cho cỏ Brachiaria Decumbens Basilisk trồng tại Thái Nguyên

Thí nghiệm trên cỏ Brachiaria decumbens Basilisk với 4 khoảng cách cắt (30, 45, 60 và 75 ngày/lứa cắt). Căn cứ vào năng suất, sản lượng và thành phần hóa học của cỏ ở các lứa cắt để xác định khoảng cách cắt (KCC) thích hợp. Kết quả cho thấy: Năng suất trung bình tương ứng với 4 khoảng cách là 48,97; 87,31; 121,67; 156,22 tạ/ha/lứa; còn sản lượng cỏ tươi lần lượt là 48,33; 56,61; 60,14; 60,78 tấn/ha/năm; sản lượng vật chất khô (VCK) lần lượt là 8,82; 11,85; 15,60 và 18,17 tấn/ha/năm; sản lượng protein là 1,17; 1,27; 1,00 và 0,91 tấn/ha/năm. Khi tăng khoảng cách cắt thì tỷ lệ VCK và xơ trong cỏ tăng, còn tỷ lệ protein, lipit, khoáng tổng số, dẫn xuất không chứa nitơ (DXKN) trong cỏ giảm xuống. Sản lượng cỏ tươi, VCK và protein của KCC 75 ngày lớn hơn so với KCC 60 ngày nhưng không có sự sai khác rõ rệt (P > 0,05). Do đó, cắt cỏ B. decumbens Basilisk ở KCC 60 ngày là thích hợp.


Giải pháp tra cứu và quản lý cây dược liệu Việt Nam dựa vào trích chọn đặc trưng của ảnh cây dược liệu trong kho cơ sở dữ liệu

Cây dược liệu có một vai trò quan trọng đối với đời sống của mỗi con người, đặc biệt là trong chăm sóc sức khoẻ. Vì vậy, việc quản lý dữ liệu về các loại cây dược liệu quý là hết sức quan trọng, góp phần vào việc quản lý và bảo vệ sự tồn tại của mỗi loại cây.


Nghiên cứu xử lý nước thải sinh hoạt bằng giá thể vi sinh di động

Nghiên cứu xử lý nước thải sinh hoạt bằng giá thể vi sinh di động (Moving Bed Biological Reactor -MBBR) được thực hiện nhằm nâng cao hiệu quả loại bỏ BOD5, COD và Nitơ. Mô hình nghiên cứu được thực hiện trong phòng thí nghiệm với bể phản ứng dung tích 100 lít. Giá thể nghiên cứu là nhựa có kích thước 10x10 mm, bề mặt riêng:1.200 m2 /m3 ; độ rỗng 85%; tỷ trọng 1,2 kg/m3 . Quá trình cố định màng vi sinh vật lên giá thể được thực hiện trong 48 giờ sau đó được đưa vào bể phản ứng. Nước thải nghiên cứu có hàm lượng BOD5 ≈ 206-270, COD ≈ 422 - 475 mg/l, hàm lượng Σ N≈ 18-40 mg/l.


Tình hình nhiễm bệnh ngoại ký sinh trùng đơn bào trên cá hương và cá giống tại xã Cù Vân, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, đánh giá hiệu quả điều trị của một số hóa chất

Qua kiểm tra cá thể cá chép, cá rô phi, cá trắm cỏ và cá mè trắng ở giai đoạn cá hương và cá giống tại khu vực xã Cù Vân, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, chúng tôi đã phát hiện 4 loài ngoại ký sinh trùng: trùng bánh xe Trichodina, trùng quả dưa Ichthyophthyrius, sán lá đơn chủ 16 móc Dactylogyrus và trùng loa kèn (Stentor). Cá rô phi là đối tượng mẫn cảm nhất với bệnh trùng bánh xe, còn với bệnh trùng quả dưa và sán lá đơn chủ 16 móc là cá trắm cỏ. Cá mè trắng là đối tượng mẫn cảm nhất với bệnh trùng loa kèn.


Đặc điểm phân loại chủng xạ khuẩn HT17.8 có khả năng kháng nấm gây bệnh trên chè tại Thái Nguyên

Nấm ký sinh gây bệnh trên chè gây thiệt hại nặng nề cho ngành công nghiệp sản xuất chè ở Thái Nguyên. Trong bài báo này, chúng tôi trình bày kết quả nghiên cứu đặc điểm sinh học, phân loại và khả năng kháng nấm mốc gây bệnh trên chè của chủng xạ khuẩn HT17.8 được phân lập tại Thái Nguyên. Chủng HT17.8 sinh chất kháng sinh có hoạt phổ rộng, có khả năng kháng vi khuẩn Gram dương (Bacillus subtilis)


Nghiên cứu nhân giống cây Hoàng tinh trắng (Disporopsis longifolia) bằng hom củ tại huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng

Việc nghiên cứu nhân giống cây Hoàng tinh trắng (Disporopsis longifolia) bằng hạt hiện đang gặp rất nhiều khó khăn, để khắc phục việc nhân giống cũng như nghiên cứu để bảo tồn loài cây có giá trị đối với việc phát triển loài cây lâm sản ngoài gỗ này. Chúng tôi tiến hành nghiên cứu nhân giống cây Hoàng tinh trắng bằng hom củ giống và bước đầu đạt được một số kết quả: loại củ và kích cỡ tốt nhất là loại củ đã cứng, mập Ф12x16, có khả năng sống và nẩy chồi, chất lượng chồi tốt nhất với chỉ tiêu theo dõi: củ sống: 55%, củ bật chồi: 77,6%, củ ra rễ: 75% và chiều dài rễ: 10,50cm, các chồi khỏe và mập, xanh.


Kết quả nghiên cứu đặc tính sinh học, sinh thái của bọ lá xanh tím (Ambrostoma sp) thuộc bộ cánh cứng (Coleoptera) ăn lá keo (Acacia) tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên

Trong mấy năm gần đây trên địa bàn huyện Phú Lương, Thái Nguyên, ở rừng trồng Keo đã xuất hiện loài Bọ lá xanh tím ăn lá Keo với mức độ đáng kể. Việc nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của chúng là rất cần thiết cho việc phòng trừ hiệu quả. Kết quả điều tra trên các ô tiêu chuẩn ở rừng trồng kết hợp với nuôi sâu trong phòng cho thấy: Sâu trưởng thành cái thân dài 6- 7mm, rộng 4- 4,2mm, con đực nhỏ và thon hơn con cái, toàn thân màu xanh đen ánh tím. Miệng gặm nhai. Râu đầu hình sợi chỉ dài 3,5mm. Thời gian sống của sâu trưởng thành từ 45- 75 ngày.


Nghiên cứu đặc điểm ngoại hình, đa hình kiểu gene Endothelin – B Receptor (EDNRB) quy định

Ngựa Bạch là đối tượng vật nuôi có giá trị kinh tế cao và cũng là nguồn dược liệu quý dùng để chữa trị một số chứng bệnh nan y ở người. Đề tài tiến hành nghiên cứu đa hình kiểu gene Endothelin-B Receptor (EDNRB) quy định màu lông trắng của ngựa giúp phân biệt ngựa bạch với ngựa bạch tạng, trong đó ngựa bạch tạng mang đột biến thay thế hai nucleotit TC353-354AG (gây ra Hội chứng chết ở ngựa con màu trắng – Overo Lethal White Foal). Tiến hành lấy mẫu máu và tách DNA 50 cá thể ngựa trắng chia làm hai nhóm, nhóm 1 gồm 42 cá thể ngựa bạch và nhóm 2 gồm 8 cá thể ngựa trắng nghi ngờ bị bạch tạng.


Ảnh hưởng của bột lá sắn và bột lá keo giậu trong khẩu phần ăn có cùng mức năng lượng, protein đến năng suất và chất lượng trứng của gà đẻ bố mẹ Lương Phượng

Thí nghiệm trên gà đẻ bố mẹ Lương Phượng, gồm có 3 lô, lô đối chứng (ĐC), thí nghiệm 1 (TN1), thí nghiệm 2 (TN2). Khẩu phần (KP) ăn của lô ĐC không có bột lá, còn khẩu phần ăn của TN1 có 6 % bột lá sắn (BLS), của lô TN2 có 6 % bột lá keo giậu (BLKG). Khẩu phần ăn của 3 lô có cùng mức năng lượng trao đổi (2700 kcal/kg thức ăn) và protein (15 % trong thức ăn).


Nghiên cứu nhân giống cây Tam thất bắc (Panax pseudoginseng) bằng phương pháp giâm hom chồi củ tại huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang

Hiện nay nghiên cứu và gây trồng cây Tam thất bắc (Panax pseudoginseng) đang được quan tâm để bảo tồn nguồn gen, đồng thời phát triển loài cây dược liệu này ở các tỉnh thuộc khu vực miền núi Đông Bắc, đang được người dân địa phương sử dụng làm thuốc và khai thác cạn kiệt. Việc nghiên cứu nhân giống có thể áp dụng trên mô hình vườn nhà là rất thích hợp và cần thiết để lưu giữ nguồn gen và bảo tồn loài cây dược liệu này.


Xác định sinh khối rễ nhỏ trong rừng tự nhiên tại Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc

Thông tin về sinh khối rễ nhỏ rất quan trọng cho việc xác định số lượng các chất dinh dưỡng và chu kỳ carbon của các hệ sinh thái rừng. Năm ô tiêu chuẩn đại diện cho rừng tự nhiên đã được thiết lập tại Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh. Sinh khối rễ nhỏ được xác định thông qua việc thu mẫu từ các lõi đất của ống dung trọng ở các tầng khác nhau: 0 – 10 cm ; 10- 20 cm; 20-30 cm. Sinh khối rễ nhỏ (đường kính ≤ 2 mm) trong rừng tự nhiên nằm trong khoảng từ 685,95 g/m2 đến 1835,71 g/m2 .


Nhân giống dòng bạch đàn lai UE35 và UE56 bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào

Nghiên cứu nhân giống dòng Bạch đàn lai UE35 và UE56 (Eucalyptus Urophylla và E. exserta) bao gồm nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ chất khử trùng HgCL2 và Ca(OCL)2 thấy rằng với HgCl2 nồng độ 0,1% trong 10 phút có kết quả tốt nhất ở cả hai dòng. Kết quả khử trùng đạt được là cao nhất có mẫu sống UE35:12,53- 15,76 và UE56:13,10-16,05.


Nghiên cứu đặc điểm tái sinh của loài bách vàng (xanthocyparis vietnamensis fargo & n. t. hype) tại xã Ca Thành huyện Nguyên Bình tỉnh Cao Bằng

Bách vàng (Xanthocyparis vietnamensis Fajon & N. T. Hiep) là một loài mới được phát hiện tại Việt Nam trong những năm gần đây và cũng là một trong những loài cây được xếp vào cấp rất nguy cấp (CR B1+2b,c,e. và CR B2ab(v)) trong Sách đỏ Việt Nam và danh lục đỏ thế giới IUCN. Bách vàng một trong những loài gỗ quý, có giá trị kinh tế cao, hiện nay, loài đang bị khai thác mạnh mẽ bởi các cộng đồng dân tộc thiểu số vùng cao, đây là vùng dân cư có đời sống kinh tế còn nghèo nàn, sinh kế thấp, cuộc sống chủ yếu dựa vào nguồn tài nguyên là chính. Bởi vậy, thực trạng khai thác nguồn tài nguyên rừng nói chung và loài Bách vàng nói riêng trên địa bàn huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng trong những năm gần đây đang đẩy loài đứng trước bờ vực của tuyệt chủng.


Tổng hợp và thăm dò hoạt tính sinh học phức chất của Honmi với L-histidin

Phức chất của honmi với L-histidin đã được tách ra ở dạng rắn. Cấu trúc của phức chất được xác định bằng các phương pháp: phân tích nguyên tố, phân tích nhiệt, quang phổ hồng ngoại và đo độ dẫn điện. Phức chất có công thức [Ho(His)3]Cl3.5H2O. Hoạt tính sinh học của phức chất cũng đã được xác định. Ở nồng độ từ 30 ppm đến 240 ppm, phức chất có tác dụng ức chế sự nảy mầm và phát triển mầm của hạt ngô, sự ức chế tăng theo nồng độ. Phức chất có tác dụng ức chế tốt hơn ion trung tâm và kém hơn phối.


Nghiêu cứu tình hỉnh sử dụng và ảnh hưởng của hóa chất bảo vệ thực vật trên địa bàn huyện Tân Yên - tỉnh Bắc Giang

Qua nghiên cứu cho thấy tại Tân Yên vẫn còn 34,62% cơ sở kinh doanh, buôn bán hóa chất BVTVcủa tư nhân không có giấy phép hành nghề. Việc sử dụng thuốc BVTV có nguồn gốc sinh học đã bắt đầu được quan tâm, hiện có 27,91% tổng số các loại thuốc BVTV được sử dụng trên toàn huyện là thuộc BVTV có nguồn ngốc sinh học. Đa số người dân đều có kiến thức về việc sử dụng, tiêu hủy và tác hại của thuốc BVTV tới sức khỏe và môi trường. Tuy nhiên, tỷ lệ người hiểu biết đầy đủ vẫn còn thấp. Điều này cho thấy việc sử dụng thuốc BVTV còn có ảnh hưởng xấu tới sức khỏe của người nông dân và tác động xấu đến môi trường.


Ảnh hưởng của một số kiểu thảm thực vật đến một số tính chất lý, hóa học cơ bản của đất ở xã Tân Phượng, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái

Bài báo trình bày những kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của thảm thực vật rừng đến một số tính chất hoá học của đất ở xã Tân Phượng, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái. Trong bốn quần xã nghiên cứu đã thống kê được 202 loài thuộc 61 họ, 159 chi. Trong đó quần xã rừng phục hồi tự nhiên sau khai thác kiệt (RPH KTK) 42 tuổi có số họ và số loài cao nhất với 112 loài thuộc 44 họ.


Kết quả điều tra tính đa dạng của tài nguyên thực vật rừng tại vùng an toàn khu Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên

Qua điều tra về tài nguyên thực vật tại huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên, chúng tôi đã thu được một số kết quả như sau: Thành phần loài thực vật ở khu vực nghiên cứu khá phong phú, gồm có 636 loài thuộc 401 chi, 126 họ, 5 ngành thực vật bậc cao có mạch. Trong đó, ngành Ngọc Lan (Magnoliophyta) có số họ, chi và loài phong phú nhất gồm 592 loài (chiếm 93,1% tổng số loài của hệ), 372 chi (chiếm 92,8% tổng số chi của hệ), 107 họ (chiếm 84,9% tổng số họ của hệ); Xác định được 30 họ thực vật có từ 6 loài trở lên.


Nghiên cứu sự phân bố, khả năng sinh trưởng và phát triển của cây sậy (Phragmites Autralis) trên đất sau khai thác quặng tại tỉnh Thái Nguyên

Nghiên cứu sự phân bố, khả năng sinh trưởng, phát triển và hấp thụ kim loại nặng của cây sậy trên đất sau khai thác quặng tại Thái Nguyên cho thấy rằng các địa hình khác nhau thì sự phân bố cũng khác nhau, tần xuất xuất hiện cây Sậy là nhiều hơn tại các nơi có điạ hình thấp, gần nguồn nước, càng lên cao thì sự xuất hiện càng giảm dần.


Đánh giá nhanh lượng các bon tích lũy trên mặt đất của một số trạng thái rừng tại xã Nam Mẫu, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn

Ước tính trữ lượng các bon tại một khoảng thời gian nhất định rất có ý nghĩa, bởi nó cho thấy tiềm năng của thảm thực vật trong giải phóng hoặc tích lũy các bon. Thông qua kỹ thuật viễn thám và các dữ liệu không gian các loại rừng chủ yếu tại xã Nam Mẫu đã được xác định. Trên cơ sở 8 điểm đã được xác định, lượng các bon tích lũy trong các rừng chính đã được xác định thông qua phương pháp đánh giá nhanh tích lũy các bon (RaCSA) của tổ chức ICRAF.


Nghiên cứu nhân giống cây Thìa canh (Gymnema sylvestre) bằng phương pháp gieo hạt và giâm hom cành tại cơ sở nghiên cứu bảo tồn và phát triển cây dược liệu Tam Thái Yên – Thái Nguyên

Cây Thìa canh (hay còn gọi dây Thìa canh) (Gymnema sylvestre) là loại cây thảo dược có giá trị dược liệu cao, việc nghiên cứu nhân giống và bảo tồn là rất cần thiết, cấp bách đối với việc lưu giữ nguồn gen quý này. Nghiên cứu nhân giống bằng phương pháp gieo hạt và hom cành đạt được một số kết quả quan trọng đối với nghiên cứu cây giống: ảnh hưởng của nhiệt độ nước để xử lý hạt nảy mầm tốt nhất là 400 : tổng số hạt nảy mầm 257,33 hạt, tỷ lệ nẩy mầm: 85,66% và tỷ lệ hạt sống là cao nhất và 95,67%, tỷ lệ hạt thối thấp nhất 4,33%.


Ứng dụng công nghệ nhà nilon trong nuôi trồng hoa lan Hồ Điệp

Nuôi trồng hoa Lan Hồ Điệp (Phalaenopsis amabilis) trong điều kiện tự nhiên gặp nhiều khó khăn do những yếu tố bất thuận của thời tiết, khí hậu. Để có thể tạo điều kiện cho lan Hồ Điệp sinh trưởng phát triển tốt, việc "Ứng dụng công nghệ nhà nilon trong nuôi trồng hoa lan H Điệp" là cần thiết và có tính khả thi cao.


Nghiên cứu ảnh hưởng của các mức bón phân N.P.K khác nhau đến sản lượng và chất lượng của cỏ Brachiaria brizantha 6387 trồng tại Thái Nguyên

Thí nghiệm được thực hiện tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên trong vòng 2 năm để xác định ảnh hưởng của các mức phân N.P.K khác nhau đến năng suất chất xanh, vật chất khô và chất lượng của cỏ Brachiaria brizantha 6387. Có 5 mức phân bón N.P.K được nghiên cứu là (0-0-0; 30- 7,5- 11; 40- 10- 14,5; 50- 12,5- 18 và 60- 15- 21,5 kg N- P2O5- K2O/ha/lứa cắt).


Ảnh hưởng cystein trong môi trường nuôi cấy tế bào trứng đến khả năng tạo phôi bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) ở heo

Nghiên cứu này nhằm đánh giá ảnh hưởng của việc bổ sung cystein vào môi trường nuôi cấy tế bào trứng đến hàm lượng glutathione (GSH) trong trứng và sự phát triển của phôi bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm ở heo.


Khảo sát ảnh hưởng của auxin lên sự hình thành và tăng sinh của rễ bất định dừa cạn (Catharanthus roseus (L.) G. Don)

Môi trường ¼ MS lỏng kết hợp với IBA 0,3 mg/L hoặc NAA 0,1 mg/L thích hợp nhất cho sự tăng sinh rễ bất định. Các nồng độ cao hơn dẫn đến sự phát triển mạnh và chiếm ưu thế của mô sẹo. Sau 28 ngày nuôi cấy trong môi trường lỏng, sinh khối thu nhận được xác định có khả năng tích lũy ajmalicine với hàm lượng cao.


Xử lý nước thải chăn nuôi heo bằng mô hình lai hợp kị khí USBF với lớp đệm linh động ở phần lọc kị khí

Trong nghiên cứu này, mô hình lai hợp kị khí USBF (Upflow Sludge Blanket Filtration), một sự kết hợp giữa sinh trưởng lơ lửng trong phần UASB (Upflow Anaerobic Sludge Blanket) và sinh trưởng dính bám trong phần AF (Anaerobic Filter), được cải tiến nhằm nâng cao khả năng xử lý nước thải chăn nuôi heo bằng cách chuyển lớp đệm trong phần sinh trưởng dính bám từ trạng thái bất động thành linh động.


trùng Synthesis of 5-arylidene-3-methylrhodanines catalyzed by 1-butyl-3-methylimidazolium chloride in water under microwave irradiation condition

Six 5-arylidene-3-methylrhodanine derivatives were synthesized by the crossed aldolization of aromatic aldehydes with 3- methylrhodanine using 1-butyl-3- methylimidazolium chloride ([BMI]Cl) as phase transfer catalyst in water. The reactions, under microwave irradiation (160 watts) during 10 minutes, afforded the yield of 59–83 %. This is the first time [BMI]Cl was used as phase transfer catalyst in the aldol condensation.


Tối ưu hóa điều kiện lên men thu nhận axit glucuronic trên môi trường nước dừa già

Nghiên cứu khảo sát các yếu tố lên men và sàng lọc bằng ma trận Plackett – Burman nhằm chọn ra các yếu tố có ảnh hưởng mạnh đến khả năng sinh axit glucuronic khi lên men trên nước dừa già. Sau quá trình sàng lọc, bốn yếu tố gồm tỷ lệ vi khuẩn G. Nataicola, tỷ lệ vi khuẩn L. acidophilus, hàm lượng sucrose bổ sung, và nhiệt độ lên men có ảnh hưởng mạnh đến khả năng sinh axit và bố yếu tố này sẽ được đưa vào quá trình tối ưu hóa. Thiết kế tối ưu hóa bằng phương pháp đáp ứng bề mặt (RSM) theo cấu trúc có tâm (CCD) thu được kết quả là 5 yếu tố ảnh hưởng mạnh có giá trị tối ưu là tỷ lệ vi khuẩn G. nataicola là 4.79 logCFU/ml, tỷ lệ vi khuẩn L. acidophilus là 5.34 logCFU/ml, 8.99% sucrose và nhiệt độ lên men 31.96○C. Giá trị axit glucuronic cực đại khi áp dụng mô hình vào thực tế là 94.23 mg/l.


Tài liệu mới download

Pháp Luật Đại Cương - Bài 7
  • 26/02/2011
  • 79.150
  • 479
Pháp Luật Đại Cương - Bài 6
  • 26/02/2011
  • 12.485
  • 768

Từ khóa được quan tâm

Có thể bạn quan tâm

Túi tiết
  • 14/03/2011
  • 81.120
  • 742
Dinh dưỡng hoá năng
  • 12/10/2011
  • 26.135
  • 270
EUROPEAN PLANT INTELLECTUAL PROPERTY
  • 23/03/2013
  • 58.882
  • 294

Bộ sưu tập

Danh mục tài liệu